Sau khi chế độ từng lớp chủ nghĩa bị xóa bỏ ở Ba Lan, đã không chỉ một lần các đối thủ chính trị mưu toan đưa ông vào khám xét với đủ các lý do. Thế nhưng, ở thời điểm hiện thời, ngay cả quân thù quyết liệt nhất của ông, cựu Tổng thống Lech Walesa cũng đã buộc phải công nhận rằng, chính ông Jaruzelski đã là người lập nên nhiều công trạng trước dân chúng và Tổ quốc Ba Lan. Đại tướng Wojciech Witold Jaruzelski sinh năm 1923 tại thị trấn Curuvija, gần thị thành Lublin, phía đông nam nước Ba Lan hiện đại. Ông xuất thân từ một gia đình điền chủ quý tộc. Tổ tiên từng là sĩ quan. Cho tới trước năm 1939, vị Tổng thống ngày mai đã có một cuộc sống khá no đủ. Thế nhưng, Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã bùng nổ ngày 1/9/1939, khi quân đội Đức tiến công vào lãnh thổ Ba Lan. Gia đình Jaruzelski đã buộc phải tha phương sang tị nạn ở Lithuania, nước cộng hòa ven biển Baltik mà chỉ một năm sau đó đã trở nên một thành viên của Liên bang Xôviết. Tuổi đầu sống trên bờ cõi Liên Xô đã không dễ dàng đối với những thành viên của gia đình mang họ Jaruzelski. Bố mẹ của vị Tổng thống ngày mai đã tắt nghỉ trong những điều kiện làm việc thời chiến khó khăn. Bản thân ông cũng đã phải đi khai khẩn gỗ ở vùng Altai và trong các khu mỏ ở Karaganda. Cuộc sống lao động cực nhọc đã khiến cho vị Tổng thống tương lai bị thương tổn lưng vĩnh viễn và mắt ông bị suy giảm nhãn quan, một bên giác mạc bị cháy. Cũng chính cho nên nên sau này, lúc nào Jaruzelski cũng phải đeo đôi kính đen. Chính trong thời trai trẻ chìm nổi đó, vị Tổng thống ngày mai đã học nói tiếng Nga một cách nhuần nhuyễn, không hề bị trọ trẹ chút nào. Tới năm 1943, Jaruzelski đã đổi đời sau khi được gửi đến phục vụ trong Sư đoàn bộ binh Ba Lan trước hết mang tên Tadeusz Kosciusko được thành lập trên bờ cõi Liên Xô (Tadeusz Kosciusko, 1746-1817, danh tướng, chính trị gia người Ba Lan, anh hùng dân tộc). Chỉ trong một thời kì rất ngắn, Jaruzelski được huấn luyện trong trường quân sự tại Ryazan. Và cũng ngay trong năm 1943, ông đã được dự các trận tranh đấu thực sự đẫm máu của cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, sát cánh cùng hoá công Liên Xô. Tiếp theo, ông đã trải qua các trận đánh giải phóng Warsaw, vùng ven biển Pomorie và trận đánh trên sông Elbe. Jaruzelski khi kết thúc chiến tranh đeo quân hàm trung úy và nhiều huân, huy chương chống chọi… Trong những năm đầu tiên sau chiến tranh, Jaruzelski đã được cắt cử đi đấu tranh dẹp loạn từ nhóm quân nổi dậy Ukraina (UPA) và đạo quân Krajowa (AK) của nhóm người Ba Lan thân phương Tây. Trong đội ngũ AK, người cha của cặp anh em song sinh Lech và Jaroslaw Kaczynski (Lech Kaczynski, 1949-2010, Tổng thống Ba Lan trong tuổi 2005-2010, đã tử nạn trong vụ tai nạn tàu bay ở Smolensk) từng giữ một vị trí không hề thấp chút nào). Có nhẽ chính chi tiết này đã góp phần xúc tiến cặp anh em song sinh Kaczynski khi nắm được quyền lực đầu những năm 2000 rồi đã rất quyết liệt tìm cách để đưa Đại tướng Jaruzelski vào tù… Tuy nhiên, đó chỉ là những nuốm bất thành vì chẳng thể có được lý do xác đáng… Trong chế độ mới ở Ba Lan, ông Jaruzelski đã tỏ ra rất có năng lực và ngày càng được thăng tiến. Vào cuối những năm 40 của thế kỷ trước, vị Tổng thống mai sau đã tốt nghiệp Học viện Bộ Tổng tư vấn, gia nhập Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan (PZPR). Sau khi sang nhiều chức phận trung cấp khác nhau, tới năm 1960, ông đã trở thành người đứng đầu Tổng cục Chính trị quân đội Ba Lan. Hai năm sau, Jaruzelski được bổ dụng làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và tới năm 1965, làm Tổng tham vấn trưởng quân đội Ba Lan. Ở thời khắc này, dù mới 42 tuổi nhưng ông đã được phong quân hàm tướng. Mùa xuân năm 1968, tướng Jaruzelski trên cương vị Bộ trưởng Quốc phòng Ba Lan đã cùng quân lính sát cánh với các đơn vị quân đội các nước thành viên khác của khối Hiệp ước Warsaw đến Tiệp Khắc để dẹp cái gọi là cuộc nổi loạn “Mùa xuân Praha”. Ở giai đoạn đó, ngay trong sơn hà Ba Lan cũng không yên tĩnh. Năm 1970, cuộc biểu tình của những người không chấp nhận với tình trạng tăng giá đã bị xả súng tấn công, làm 44 người chết. Sau này, trong thể chế mới, có thần thế muốn buộc cho Jaruzelski trách nhiệm về vụ này. Tuy nhiên, xả súng bắn vào những người biểu tình không phải là các bộ đội Ba Lan mà là các cán bộ an ninh, không nằm trong quyền điều hành của ông… Năm 1976, tại Warsaw lại có những người dân xuống đường biểu tình phản đối việc tăng giá hàng. Tuy nhiên, lần này thì không ai phải trở nên nạn nhân của bạo lực cả. Có nguồn tin cho rằng, chính Bộ trưởng Quốc phòng Jaruzelski đã dứt khoát bác bỏ phương án dùng quân đội đàn áp những người biểu tình… Nhìn từ một giác độ khác, có thể do cách xử lý mềm mỏng quá của chính quyền Ba Lan thời đó nên ở tổ quốc này càng ngày càng lan rộng phong trào chống chính quyền và công đoàn Đoàn kết của thủ lĩnh Lech Walesa đã có thêm cơ hội để phát triển. Tới năm 1981, các đòi hỏi lợi quyền kinh tế từ tổ chức này đã được thay đổi bằng các đòi hỏi chính trị. Lãnh đạo PZPR Edward Gierek và người kế nhiệm Stanislaw Kania đã không làm được việc gì đáng kể để cải thiện tình hình. Trong khi đó, phe đối lập đã được Giáo hoàng Gioan Phaolô II, vốn có uy tín rất lớn ở Ba Lan, đứng ra công khai cổ xúy. Hàng loạt những đài phát thanh nước ngoài phát bằng tiếng Ba Lan như Tự do, BBC.. Đã công khai kêu gọi người dân Ba Lan đứng lên chống lại chính quyền… Trong bối cảnh đó, dĩ nhiên Điện Kremli đã buộc phải rất chăm chú theo dõi những biến đổi thời sự ở giang sơn láng giềng anh em Ba Lan, bởi lẽ, điều đó sẽ có ảnh hưởng rất to lớn tới chính sự tồn vong của hệ thống tầng lớp chủ nghĩa ở Đông Âu. Phát biểu tại Đại hội XXVI của Đảng Cộng sản Liên Xô (KPSS) đầu năm 1981, Tổng bí thơ Leonid Brezhnev đã nhấn mạnh: “Chúng ta sẽ không để cho Nước Cộng hòa Ba Lan từng lớp chủ nghĩa lâm nạn và sẽ không để bị xúc phạm. Cũng ở thời khắc đó, nhà tư tưởng cốt yếu của chế độ Xôviết là ông Mikhail Suslov đã đến Warsaw, yêu cầu các nhà chức trách Ba Lan xử lý nghiêm với những kẻ thù của chủ nghĩa tầng lớp. Trong bối cảnh đầy khó khăn và phức tạp đó, sờ soạng quyền lực ở Ba Lan đã được chuyển giao cho Jaruzelski, người vẫn giữ lại vị trí Bộ trưởng và song song nắm cả chức lãnh đạo đảng và Hội đồng Bộ trưởng. Ông đã phải rất linh hoạt hành xử giữa áp lực từ sự bất mãn của người dân, những trò khiêu khích của phương Tây và nguy cơ quân đội Xôviết tràn vào… Ông đã quả cảm khước từ sự giúp đỡ bằng quân sự từ Điện Kremli và cam kết sẽ xử lý được tình hình bằng chính sức mạnh nội bộ của người Ba Lan. Chính quyết định này của Đại tướng Jaruzelski đã giúp Ba Lan tránh được những đụng độ vũ trang rất dễ cướp đi sinh mạng của nhiều người Ba Lan và các chiến binh Xôviết… Tối 12/12/1981, Đại tướng Jaruzelski đã lên truyền hình và tuyên bố tình trạng thiết quân luật tại Ba Lan. Giao thông bằng điện thoại đã bị cắt đứt, vơ các cơ quan báo chí đều bị đóng cửa, trừ hai ấn phẩm chính thống. Quyền lực được chuyển vào tay của cơ quan đặc biệt mới được thành lập là Hội đồng Quân sự cứu quốc. Đại tướng Jaruzelski đã bổ dụng các chức ủy viên đặc biệt tại các thị thành và nhà máy để duy trì trật tự an ninh. Xe tăng xuất hiện trên các đường phố. Các nhân vật chống đối, trong đó có thủ lĩnh công đoàn Đoàn kết Lech Walesa đã bị bắt giữ… Dần dà tình hình ở Ba Lan được cải thiện. Hẳn nhiên, không phải không có thương vong. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ tháng 12/1981 đến tháng 7/1983, tức thị khi lệnh giới nghiêm đã bị hủy bỏ, chỉ có khoảng 100 người bị thiệt mạng. Các nhà quan sát đều cho rằng, những mất mát không lớn này đã giúp cho Ba Lan ở thời khắc ấy tránh được những vụ đổ máu khủng khiếp hơn. Nhờ những rứa của Jaruzelski, tình hình Ba Lan đã lặng yên được thêm một đôi năm. Dù rằng Đại tướng Jaruzelski cũng bị phương Tây chỉ trích này nọ nhưng đã không có nước nào đưa ra bất kỳ một biện pháp trừng phạt nào đối với Ba Lan. Tuy nhiên, con đường phát triển của Ba Lan đã phải ưng ý những đổi thay căn bản. Cuộc khủng hoảng kinh tế quy mô lớn vào năm 1988 đã đẩy hàng ngàn người dân xuống đường. Phương Tây ra mặt công khai ủng hộ công đoàn kết đoàn, trong khi Điện Kremli lại cũng đang phải vất vả ứng phó với những khó khăn mới nảy sinh nên không còn sức đâu để “canh chừng” quốc gia hàng xóm. Hiểu rõ rằng không thể tiếp duy trì quyền lực cũ, tướng Jaruzelski đã ngồi vào bàn đàm phán với phe đối nghịch để tìm phương thức chuyển giao quyền lực một cách hòa bình. Năm 1989, ông đã trở thành Tổng thống Ba Lan (chức danh này đã được khôi phục lại sau 40 năm) và đã đồng ý tổ chức bầu cử tự do vào hai viện của Quốc hội. Và như đã rõ, trong cuộc bầu cử đó, chiến thắng đã tới với công đoàn kết đoàn. Tới mùa thu năm 1990, cuộc bầu cử Tổng thống mới cũng đã mang lại chiến thắng cho thủ lĩnh công đoàn Đoàn kết Lech Walesa… Từ thời khắc đó, Jaruzelski đã thoát ly khỏi chính trường. Tuy nhiên, những quân thù chính trị vẫn không để cho ông yên. Đã rất nhiều lần vị tướng khả kính tấm phải ra hầu tòa bởi những lời vu cáo. Người đặc biệt dữ dằn trong những gắng làm hại tướng Jaruzelski là vị Tổng thống thứ ba của nước Ba Lan hậu từng lớp chủ nghĩa, Lech Kaczynski. Tuy nhiên, cáo buộc nhà lãnh đạo cao niên của một thời Ba Lan từng lớp chủ nghĩa cho tới bữa nay vẫn là việc khó khả thi… Trong lễ kỷ niệm ba thập niên sự kiện năm 1981, trả lời phỏng vấn báo chí, tướng Jaruzelski đã khẳng định rằng, ông đã hành động một cách xác thực ở thời điểm đó: “Nếu bữa nay rơi vào tình huống rưa rứa thì tôi vẫn sẽ hành động y như thế…”. Có thể là lạ nhưng người được coi là kẻ thù quyết liệt nhất của tướng Jaruzelski, cựu Tổng thống Lech Walesa, bây giờ lại lên tiếng bảo vệ ông: “Trong chiến tranh, Jaruzelski đã đấu tranh cho một nước Ba Lan tự do. Ông là một tướng quân. Trong một câu chuyện khác và những cảnh ngộ khác, ông ấy hẳn đã được đánh giá là một vĩ nhân”. Không phải đơn giản mà ông Walesa lại có những lời như thế… Đối với Đại tướng Jaruzelski, phúc lộc của Tổ quốc luôn đứng hàng đầu. Trong bất cứ một tình cảnh phức tạp nào ông cũng nạm tìm ra được phương án tối ưu. Và hậu thế sẽ ngày một thấy rõ hơn công lao của ông đối với giang san Ba Lan trong một giai đoạn lịch sử nhiều biến động và rối lẫn đã qua… |
Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013
Tổ quốc trên hết
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét