Với đích tạo dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động vô cùng quan trọng này, năm 1989, Hội đồng quốc gia đã ban hành Pháp lệnh về xử phạt vi phạm hành chính và sau đó từng bước hoàn thiện qua bốn lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1995, 2002, 2007 và 2008. Cùng với các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, các Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính qua từng thời kỳ đã đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phòng ngừa, chiến đấu chống vi phạm hành chính, yêu cầu dân chủ, công khai, minh bạch trong xử lý vi phạm hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý hành chính quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn từng lớp... Tuy nhiên, qua hơn 20 năm thực hiện, hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính với văn bản pháp lý cao nhất ở tầm Pháp lệnh đã biểu thị những hạn chế, bất cập, đòi hỏi phải khẩn trương nghiên cứu, điều chỉnh, nhằm đáp ứng yêu cầu càng ngày càng cao của đời sống kinh tế - tầng lớp của sơn hà trong giai đoạn phát triển mới. Với đích hoàn thiện luật pháp trong lĩnh vực này, qua đó tăng cường hiệu lực và hiệu quả tình thi pháp luật, đồng thời thể chế hóa một trong những chủ trương xuyên suốt trong nhiều quyết nghị của Đảng về đảm bảo quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 đã duyệt y Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày 20-6-2012. Kể từ ngày 1-7-2013, Luật bắt đầu có hiệu lực thi hành, trừ các quy định liên can đến việc vận dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án dân chúng coi xét, quyết định có hiệu lực kể từ ngày 1-1-2014. Với bố cục gồm sáu phần, 12 chương và 142 điều, quy định về xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính với nhiều nội dung mới, tiến bộ, Luật Xử lý vi phạm hành chính đánh dấu bước phát triển mới trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và luật pháp xử lý vi phạm hành chính nói riêng ở Việt Nam, đồng thời khẳng định một bước phát triển mới về cơ chế pháp lý trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở nước ta, được nhân dân và cộng đồng quốc tế hoan nghênh, đánh giá cao. Thứ nhất, Luật Xử lý vi phạm hành chính đáp ứng yêu cầu "thiết chế hóa kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về xây dựng Nhà nước pháp quyền từng lớp chủ nghĩa Việt Nam của quần chúng. #, Do quần chúng và vì quần chúng. #; Bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân...". Đây là chủ trương lớn xuyên suốt trong nhiều quyết nghị về xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp, cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Điều đó đòi hỏi Nhà nước ta cần phải quy phạm hóa các quyền tự do dân chủ, quyền con người bằng các quy định của một đạo luật; trong khi đó xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính là một trong những loại trách nhiệm pháp lý, trực tiếp hệ trọng đến quyền cơ bản của con người, quyền công dân, can dự đến lợi ích hợp pháp của cá nhân chủ nghĩa, tổ chức, theo quy định của Hiến pháp, phải được quy định bằng văn bản luật. Luật Xử lý vi phạm hành chính là ví dụ biểu lộ đầy đủ và đậm nét chủ trương này. Thứ hai, Luật Xử lý vi phạm hành chính thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và quốc gia về cải cách hành chính, đáp ứng yêu cầu tranh đấu phòng, chống vi phạm hành chính hạp với định hướng của quyết nghị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 trên ý thức quán triệt quan điểm thực hiện "đơn giản hóa và công khai, minh bạch các thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục hệ trọng trực tiếp đến quyền và lợi. Của người dân và doanh nghiệp". Các quy định cụ thể trong Luật Xử lý vi phạm hành chính, tiêu biểu là các quy định về lớp lang thủ tục xử phạt vi phạm hành chính, các quy định về các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, các quy định về lớp lang, thủ tục lập hồ sơ, coi xét, quyết định vận dụng và thi hành các biện pháp xử lý hành chính... Được quy định theo ý thức đảm bảo tính công khai, sáng tỏ nhưng rất chém đẹp, rõ ràng, hiệu quả, để thật sự thuận tiện, dễ dàng cho người dân chấp hành pháp luật và lực lượng chức năng thực thi công vụ trong thực tiễn. Thứ ba, Luật Xử lý vi phạm hành chính góp phần thực hiện một trong những chủ trương lớn của Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị BCHTW Đảng về "Chiến lược cách tân tư pháp đến năm 2020", đó là "hình thành cơ chế pháp lý để Chính phủ thực hiện quyền đề nghị coi xét, xử lý bằng thủ tục tư pháp đối với mọi vi phạm nghiêm trọng được phát hiện trong quá trình quản lý, tổ chức thi hành pháp luật", "tạo điều kiện tiện lợi cho người dân dự tố tụng, đảm bảo sự đồng đẳng của công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án". Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định chuyển thẩm quyền xem xét, quyết định vận dụng các biện pháp xử lý hành chính (đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở chữa bệnh, đưa vào cơ sở giáo dục) sang cơ quan tư pháp là một cải cách thật sự lớn và có ý nghĩa sâu sắc dưới giác độ bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tả xu hướng tiến bộ, dân chủ, thực hành đúng tinh thần "các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của dân chúng trong việc bảo vệ công lý, quyền con người" đã được khẳng định tại quyết nghị số 49-NQ/TW nêu trên. Các quy định về các biện pháp xử lý hành chính của Luật Xử lý vi phạm hành chính đã mô tả rõ ý kiến có nhiều điểm tiến bộ vượt bậc so với quy định của các Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính trước đây. Thứ tư, Luật Xử lý vi phạm hành chính bỏ quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người bán dâm. Việc này biểu hiện sự đổi mới trong thái độ đối xử đối với người bán dâm hiệp với điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước trong giai đoạn phát triển mới và thuộc tính của hiện tượng xã hội này. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là người bán dâm không bị ứng dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, song vẫn bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật. Bên cạnh đó, để hạn chế các ảnh hưởng thụ động từ việc không đưa người bán dâm vào cơ sở chữa bệnh nép, Chính phủ, các địa phương chuẩn y các giải pháp kinh tế - xã hội cần tăng cường thực hành các chính sách, các chương trình quốc gia về dạy nghề, vay vốn, tạo công ăn việc làm nhằm quan hoài, tạo điều kiện, viện trợ những người bán dâm để họ có công ăn việc làm, thu nhập ổn định, hòa nhập cộng đồng; đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật; tăng cường thực hành mạnh mẽ hơn các chương trình phòng, chống HIV/AIDS và chống các bệnh lây lan qua đường tình dục, trong đó có việc chữa bệnh cho những người mắc bệnh mà pháp luật quy định. Thứ năm, Luật cũng dành một phần riêng để quy định về chính sách xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính và quy định về các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính (bao gồm nhấc, quản lý tại gia đình); điều kiện, thẩm quyền và thủ tục áp dụng các biện pháp thay thế. Đây là một nội dung mới, tiến bộ, miêu tả chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta thẳng thớm quan hoài đến đối tượng người chưa thành niên nói chung, người chưa thành niên vi phạm pháp luật nói riêng, nâng cao một bước phát triển về thiết chế pháp lý bảo vệ quyền con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Luật Xử lý vi phạm hành chính (Điều 17) đã quy định toàn diện, đầy đủ nội dung về vấn đề theo dõi, quản lý hợp nhất công tác thi hành luật pháp xử lý vi phạm hành chính trên ý thức đổi mới cơ bản nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả tình sự của công tác quản lý thi hành luật pháp xử lý vi phạm hành chính mà các Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính trước đây chưa quy định. Đây cũng là nguyên tố quan yếu bảo đảm thực thi pháp luật xử lý vi phạm hành chính trang nghiêm, thống nhất, chính xác, hiệu quả, bảo đảm đầy đủ các quyền con người, quyền, ích hợp pháp của cá nhân chủ nghĩa, tổ chức đã được Hiến pháp quy định trong xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, Chính phủ "hợp nhất quản lý công tác thi hành luật pháp về xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi cả nước". Bộ Tư pháp là cơ quan chịu bổn phận trước Chính phủ thực hiện quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính với những nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại khoản 2 của Điều 17 nói trên. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án dân chúng vô thượng, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp có bổn phận thực hiện hoặc phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể về công tác thi hành luật pháp xử lý vi phạm hành chính được quy định tại các khoản còn lại của Điều 17 Luật Xử lý vi phạm hành chính. PGS, TS HÀ HÙNG CƯỜNG (Bộ trưởng Tư pháp) |
Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013
Luật Xử lý vi phạm hành chính - bước phát triển mới về cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở nước ta
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét