Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

Nhà sản xuất và nhà khoa học Việt Nam không có mối liên hay hay kết.

Họ chỉ có thể làm được điều đó nếu luật pháp bảo vệ sáng tạo của họ. Do vậy, giữa nhà sinh sản và nhà khoa học Việt Nam không có mối kết liên ngay từ thời đoạn đầu. Điều này khiến các nhà khoa học không biết nhà sản xuất cần gì để mà nghiên cứu, và nhà sinh sản không biết nhà khoa học có thể làm được gì, kết quả của họ có đáng tin tưởng để có thể thương nghiệp hóa được không. Trước khi bắt tay vào tiến hành thí nghiệm, họ cần phải đáp được các câu hỏi: Liệu nó có thể vận dụng vào các thiết bị, sản phẩm mà thị trường đang cần? Liệu nó có thể giải quyết các nhu cầu thị trường đang chờ? Anh chẳng thể thành công nếu anh nghiên cứu cái đã quá cũ hoặc cái không có tiềm năng áp dụng vào thực tế.

Đó là quan điểm của anh Đỗ Quốc Tuấn, nghiên cứu sinh vật lý lý thuyết tại Đại học Chiao Tung, Đài Loan tham gia diễn đàn "L àm thế nào để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học". Đó là một trong những động lực để từng lớp có thêm nhiều nhà phát minh.

Net hoặc box "ý kiến của bạn" bên dưới. Vì sao họ làm được điều đó? Vì họ có mục tiêu lấy ngắn nuôi dài, trong giai đoạn đầu họ bằng lòng làm gia công cho các công ty khác, chấp thuận bán sản phẩm với lợi nhuận ít để nuôi hàng ngũ kỹ sư trong các phòng thể nghiệm của họ.

Đọc báo, lướt web, nói chuyện với bạn bè, người thân trên tivi đang dần phổ quát, và đương nhiên, sản phẩm nào ưu việt nhất (công nghệ+giá cả) thì được mua nhiều nhất và công ty có sản phẩm đó hẳn nhiên thu nhiều lợi nhuận nhất.

Và sẽ thật là buồn khi kẻ đi sau lại giàu to nhờ vào phát minh của kẻ đi trước.

Quay lại bối cảnh nền kinh tế của Việt Nam. Đây chỉ là một thí dụ nhỏ cho chúng ta thấy vì sao phải gắn khoa học-công nghệ với sinh sản, thị trường. Từ phòng thử nghiệm tới người tiêu dùng là cả một quá trình phức tạp bao gồm nhiều bước như công bố quốc tế, đăng ký bản quyền, đăng ký thương hiệu, sinh sản mẫu thử nghiệm, các bài soát kỹ thuật, sinh sản hàng loạt, marketing, bảo hành, hậu mãi.

Các đời màn hình kiệm ước điện, kích tấc giảm, độ nét cao đã ra đời và được thị trường đón nhận tích cực. Ở nước ta, pháp luật như luật sở hữu trí óc, luật bản quyền chưa đi vào cuộc sống. Chỉ khi nào các kết quả nghiên cứu được thương nghiệp hóa thành các sản phẩm hoàn thiện và được người tiêu dùng đón nhận vì có những tính năng đáp ứng nhu cầu khăng khăng của con người, thì lúc ấy khoa học – công nghệ mới đóng góp vai trò của mình cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, do Việt Nam không có nền móng khoa học kỹ thuật ban đầu nên hầu hết các dây chuyền sản xuất là nhập từ nước ngoài về. Hàm lượng chất xám của người Việt đóng góp trong các dây chuyền công nghiệp này gần như không có. Các nhà khoa học cũng do vậy không mặn mà khi thương mại hóa vì nạn đánh cắp bản quyền.

Sẽ rất lãng phí nếu các kết quả nghiên cứu có tính áp dụng cao không được thương mại hóa ngay vì với trình độ của các nước có nền khoa học-công nghệ tiên tiến họ chỉ mất một thời gian ngắn, thậm chí rất ngắn là có thể lặp lại các kết quả mà người khác vừa công bố. "Từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu tới một nước có nền công nghiệp tiền tiến là cả một quá trình đầy thách thức đối với dân tộc Việt Nam.

Tỉ dụ, nói về màn hình tivi, có một cuộc cách mạng đang diễn ra. Trong câu chuyện tivi, chúng ta không thể không nhắc tới hai hãng điện tử khổng lồ của Hàn Quốc là Samsung và LG.

Chỉ 20-30 năm gần đây, nhất là từ khi quốc gia mở cửa thì công nghiệp mới được phát triển mạnh. Trong nền kinh tế mạnh, thương nghiệp hóa kết quả nghiên cứu diễn ra nhanh chóng và hiệu quả.

Từ điểm yếu của màn hình CRT thế hệ cũ như tốn điện, kích tấc kềnh càng, độ nét không cao, các nhà khoa học không chỉ ở các trường, viện nghiên cứu mà còn ở các phòng phát triển công nghệ của các tập đoàn điện tử lớn đã không ngừng cố gắng khắc phục những điểm yếu này. Khoa học - công nghệ đã và đang được coi như một trong những lời giải chính cho bài toán khôn cùng hắc búa này.

Tivi giờ đây không chỉ bó hẹp ở khái niệm nghe và nhìn, nó giờ là một trọng điểm giải trí đa dụng cụ tại nhà.

Từ chỗ bắt chước lại các sản phẩm của các hãng điện tử Nhật như Sony, Sharp trong tuổi đầu mới thành lập, giờ họ đã trở nên các đối thủ đáng gờm, thậm chí họ còn dẫn đầu ở một số sản phẩm. Công nghệ là của họ, họ không phải bỏ tiền tấn ra mua nên giá thành sản phẩm của họ rất cạnh tranh.

Để có được sự đột phá trước nhất đó thì chỉ có quá trình nghiên cứu trong phòng thể nghiệm mang lại, vì nghiên cứu là quá trình tìm tòi, khám phá những thứ chưa ai biết, những thứ hoàn toàn mới. Trong một thế giới toàn cầu hóa đầy tính cạnh tranh như hiện giờ thì người nào tạo ra sản phẩm có tính đột phá trước nhất, người đó sẽ chiếm được thị trường. Đỗ Quốc Tuấn   Mời độc gia tham gia diễn đàn "Làm thế nào để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học" bằng cách gửi về hòm thư Khoahoc@vnexpress.

Phải chăng các nhà khoa học trong nước, đặc biệt trong lĩnh vực kỹ thuật-ứng dụng đã hụt hơi, mất phương hướng trước sự phát triển của nền kinh tế? Để thích ứng với nhu cầu mới của tuổi công nghiệp hóa, đương đại hóa giang san, các nhà khoa học không nên bó hẹp tư duy trong phòng thí điểm mà cần phải có cái nhìn ra ngoài thị trường.

Nhà khoa học thì cứ nghiên cứu những thứ không cần cho nền kinh tế, trong khi những thứ cần thì luôn phải nhập cảng. Bây chừ, nước ta đang có một đôi công ty học theo mô hình của các công ty Hàn Quốc như Viettel, Rạng Đông, Việt Tiến.

Một nền kinh tế mạnh chỉ khi có các mặt kết hợp nhau một cách nhịp nhàng, ăn khớp nhau. Tuy nhiên, bản thân các kết quả nghiên cứu khoa học – công nghệ không tức khắc gia tăng thu nhập cho nền kinh tế.

Khi đã nắm chắc công nghệ nền tảng, họ tự tín phát triển các công nghệ mới, tung ra thị trường các sản phẩm có chất lượng không thua kém gì các đối thủ. Tại các nước có nền kinh tế phát triển, nhà khoa học phát minh ra sản phẩm mới được xã hội đón nhận có khả năng cao sẽ trở thành triệu phú, bởi họ có thể bán bằng phát minh cho các công ty, hoặc có thể tự mở công ty để thương nghiệp hóa phát minh của bản thân.

Đó là một tín hiệu hăng hái cho nền kinh tế còn non trẻ của Việt Nam. Có một nguyên tố không thể không nhắc tới trong quá trình thương nghiệp hóa các sản phẩm khoa học, đó là khung luật pháp.

Quá trình đó tiếp diễn mãi cho tới tận bây giờ, kéo theo sự ngăn cách giữa hai “nhà” càng thêm rộng.

Nền kinh tế Việt Nam trước đây là thuần nông và dựa đốn vào trợ giúp nước ngoài. Khi nói tới nền kinh tế có nghĩa ta nói tới một tổng thể các mặt từ nghiên cứu, sinh sản, dịch vụ cho tới luật pháp.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét