Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Cố nhà văn Sơn Nam: Càng các gần, càng thấy lạ.

Còn lại là tên tác phẩm thôi

Cố nhà văn Sơn Nam: Càng gần, càng thấy lạ

Chuyện ông đi thuê nhà ở, lúc thoạt đầu nghe nhà thơ Huỳnh Kim nói, tôi cứ ngỡ là chuyện đùa, thì ra là sự thực. Có lẽ một phần do điều kiện chỗ ở không cho phép ông có thư viện riêng ở nhà để tra, nên có thể nói những địa chỉ ông thường tiến thoái, la cà là những nơi có nhiều sách tham khảo và nhiều tài liệu lưu trữ.

Nó dung chứa một thời đoạn lịch sử một cách tương đối khách quan, không nhuốm màu chủ kiến. Bốn tập hồi ký với hơn 500 trang in được viết trong vòng hơn 3 năm, trong đó có nhiều đoạn viết tay, đôi đoạn đánh máy, và dăm ba đoạn là được cắt từ một số bài báo rồi chua thêm đôi ba câu dẫn.

Nó thật sự là tiếng lòng của người thứ dân, đặc biệt là người thường dân cầm bút. Và rồi, khi khả năng viết dài không còn đủ, và cũng theo gợi ý của Nhà xuất bản Trẻ, ông tụ tập viết lại chuyện đời mình từ thơ dại cho đến lúc bấy giờ, nhằm giúp cho độc giả có thêm cơ sở để tiếp cận với thời và thế.

Ông lại đi, lại đi, hết miền Đông lại về miền Tây. Có thể nói, từ khi lên Sài Gòn làm báo viết văn năm 1955 đến khi được có căn nhà mang tên chủ hộ là mình, nhà văn Sơn Nam đã có hơn 30 năm sống ở Sài Gòn trong phong thái của người trắng tay về tài sản vật chất, chỉ có tài sản ý thức, do bức bách của cuộc sống, phải viết lách để nuôi sống bản thân và gia đình, nên mới có nhiều tác phẩm.

Ông là nhà văn Sơn Nam. Dù khó khăn nhiều nhưng rút cuộc bốn tập hồi ký "Từ U Minh đến Cần Thơ", "Ở Chiến khu 9", "Hai mươi năm giữa lòng đô thị" và "Bình An" cũng đã lần lượt ra mắt độc giả. Sơn Nam có thói quen rất lạ là không bao giờ tặng sách cho ai, dù người đó thân quen đến cỡ nào. Qua những chuyến đi, hồn đất, hồn sông, hồn người như được khai quật, tô bồi trong lớp lớp phù sa của một thời mở đất.

Nghe nói rằng, thời ông quen nhà văn, nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển lúc ông mới chân ướt chân ráo lên Sài Gòn, thì cái thư viện nhà ông Sển với khối tài liệu lưu trữ lý thú là nơi gợi mở cho ông viết cuốn "Tìm hiểu đất Hậu Giang". Hình ảnh một ông già nhỏ thó, kính trắng trễ mũi, điếu thuốc luôn đỏ trên môi, thẳng tính ngồi quán cà phê ở Nhà Văn hóa quận Gò Vấp trên đường Nguyễn Văn Nghi (gần ngã năm Chuồng Chó), nói chuyện với nhiều hạng người, nhiều loại người, hoặc lặng thầm rút vào một góc thư viện để đọc sách và nghiên cứu.

Vớ sáng tác cũ mới của ông đều được viết tay hay đánh máy độc bản và được giao cho bộ phận dùng can dự như tòa soạn, nhà xuất bản hay nhà in lưu giữ. Được dịp đi du ngoạn cùng ông về miền Tây, ra Hà Nội trong những ngày hội nghị viết văn tôi càng lúc càng thấy kiến văn của ông quả thật hơn người.

Vì vậy dù trước giải phóng, lần đầu in tác phẩm nào cũng có những bản đặc biệt, có đánh số hoặc ghi ký hiệu, nhưng chừng như ông không còn bản sách nào trong số đó cả. Ông viết từng tuổi ngắn, không quan hoài đến việc đặt tên cho từng thời kỳ, khiến biên tập viên là tôi phải hỏi ý ông về tên sách cho mỗi tập khi xuất bản.

Và vì là thủ lĩnh ở hai quận nên anh Sáu Quang Nguyễn Chơn Trung (Bình Thạnh) và anh Năm Nghị Phạm Chánh Trực (quận 5) phải gánh vác. Ông còn đích thân đến trường để xin cho các cháu được vào học trường công lập bằng uy tín cá nhân của mình.

Còn bản thân ông thì lại lưu giữ sách vở của người khác để làm tài liệu lục vấn, phục vụ cho việc viết của ông.

Choáng ngợp thứ hai là dù viết khá nhiều sách, nhưng hầu như ở nhà ông không còn quyển sách nào của ông cả, cho dù là một bài báo, hay một mẩu truyện ngắn, một trang bản thảo lưu. Ông thì nhận nhà trệt ở hẻm đường Đinh Tiên Hoàng, quận Bình Thạnh, gần Trường Trung học Võ Thị Sáu; còn Lý Lan thì nhận phòng trong khu nhà góc ngã tư Nguyễn Tri Phương - An Dương Vương, quận 5, gần khu La Kai.

Một con người bình dị đến tót vời như thế, một con người chân đi không biết mỏi, mà những năm cuối đời phải nằm nhà quả là một. Có thể nói hồi ký là 4 tập sách dài hơi chung cuộc mà nhà văn viết, bởi sau đó ông chỉ viết ngắn, và cho đến năm 2005, sau khi bị tai nạn đụng xe thì gần như không viết gì nữa.

Về chữ viết, càng về già, chữ ông càng sít lại, nhỏ hơn và nhiều khi thiếu nét.

Ông cho rằng, người đọc trọng mình thì trước tiên phải bỏ tiền túi ra, đồng tiền làm từ công sức lao động của mình mà có. Nhà văn Sơn Nam bên bức tượng bán thân của mình do các nghệ sĩ Tp HCM gửi tặng.

Hẳn người dân trong xóm Trũng ở phường 7, Gò Vấp không thể nào quên hình ảnh của ông - nhà văn Sơn Nam. Bí hiểm đến phút chung cuộc. Nó có số liệu, có cứ liệu, nhưng vẫn ngồn ngộn chất thi hứng của một người sáng tác, người viết văn hơn là của một nhà khoa học kinh viện. Ông cứ viết theo từng tuổi, thư thả mà không gò ép, vả lại ông cũng chẳng đảm đang vai trò quan chức gì to tát trong suốt thế cục mình, vì thế hồi ký cũng chẳng có gì phải tô, phải vẽ cho "ra dáng".

Nhiều người dân nghèo nhập cư nơi ông tạm ở trong những ngày rời gia đình sống lang thang ở Gò Vấp đã có công ăn việc làm, con cái được học hành nhờ vào tinh thần Mạnh Thường Quân của ông.

Mới đó mà đã năm năm. Những tập hồi ký nhỏ ấy thật ra không nhỏ một tẹo nào. Năm năm những con đường, những cơ quan, những chùa chiền, đền miếu, những đình làng, lễ hội ở phố thị Sài Gòn hay xóm ấp miền Nam thiếu vắng bước chân ông - bước chân của con người trải dài những kiến thức đời mình trên những chuyến đi điền dã.

Ông đi như một thói quen chẳng thể nào bỏ được. Sau những hoạt động kỷ niệm 300 năm Sài Gòn - tỉnh thành Hồ Chí Minh với những bài báo, bài viết, cuộc trả lời phỏng vấn phát thanh và truyền hình, những buổi chuyện trò ở cơ quan đơn vị, hình ảnh Sơn Nam như không trực trên các dụng cụ thông tin đại chúng, nhà văn lại trở lại với những hoạt động thường ngày của mình.

Có thể nói, đối với tôi, nhà văn Sơn Nam là một điều gì đó khôn cùng. Chuyện này có được, dường như cũng là nhờ thư tay của ông Sáu Dân Võ Văn Kiệt. Choáng ngợp trước nhất là hơn 30 năm sống ở Sài Gòn, dù rất nổi tiếng trong "trường văn trận bút", ông vẫn là người đi ở nhà thuê, không một tấc đất chính chủ để cắm dùi.

Xấu số lớn lao. Nhà xuất bản phải đi tìm, đi sưu tập để có được. Mua sách và xin chữ ký thì ông sẵn sàng ký tặng. Tôi đọc văn ông từ hồi còn học trung học, nhưng biết và gặp gỡ ông thì phải đến lúc trưởng thành.

Thậm chí, khi ký kết thân bít tất bản quyền tác phẩm của mình cho Nhà xuất bản Trẻ vào tháng 3-2003, ông cũng chỉ giao cho Nhà xuất bản Trẻ thêm chưa tới 10 đầu sách, chưa kể những đầu sách đã in ở Nhà xuất bản Trẻ. Bình Thạnh thì gần lăng Ông Bà Chiểu cho nhà văn Sơn Nam tiện việc đi lại dự Ban tế lễ lăng Lê Văn Duyệt; còn quận 5 thì không xa trung tâm người Hoa ở Chợ Lớn để nhà văn gốc Hoa Lý Lan không xa cỗi nguồn.

Mãi đến ngày Sài Gòn phóng thích, ông mới trở thành cán bộ sáng tác của Hội Văn nghệ thành phố Sài Gòn - Gia Định, sau đó năm 1981 thì được biên chế chính thức trong đội ngũ cán bộ sáng tác của Hội Nhà văn trước khi nghỉ hưu năm 1992.

Mãi đến khi tôi chính thức chuyển công tác về Hội Nhà văn Tp HCM, thì một trong những công việc hàng đầu phải lo là làm thủ tục cho ông và cho nhà văn Lý Lan nhận nhà. Một tẹo hồi tưởng để nhớ về ông trong những ngày tháng này sẽ làm chúng ta yêu hơn những trang văn ông để lại cho đời, cho mỗi con người đã đọc ông trên muôn dặm đường đời.

Khi chưa bị bệnh và trở về nhà ở đường Đinh Tiên Hoàng, mỗi năm khi đến đầu năm học và tới dịp lễ Tết, tôi thấy ông lại đề nghị xuất tiền trong nguồn ngân quỹ do tôi tạm quản lý để mua sách vở, cặp táp và quà bánh tặng các cháu nhỏ nghèo.

Còn tập truyện ngắn "Hương rừng Cà Mau" thì mãi đến sau mùa xuân năm 1962 mới xuất bản, nghĩa là sau gần 7 năm ông từ quê nhà Rạch Giá lên xứ Sài Gòn. Dù sao ông cũng từ biệt cuộc thế, tạm biệt chúng ta đã tròn năm năm. Hai mươi năm ở Sài Gòn, ông là người làm nghề viết tự do, không trực thuộc một đơn vị quản lý nào cả, thành ra phải tự mình lo cho mình nhiều thứ, chứ chẳng có được sự ưu tiên ưu đãi nào.

Hơn 30 năm quen biết ông, từ họp hội, làm việc cùng cơ quan, cho đến lúc gần như trở nên người "quản lý" tài chính của ông, với tôi - nhà văn Sơn Nam vẫn là một người luôn mang đến điều bất ngờ choáng ngợp. Bên trong cái thân xác gầy mòn yếu ốm là cả một nghị lực phi thường, một hào kiệt siêng năng giũa mài và một tấm lòng vị tha đến mông mênh minh mông.

Bí ẩn. Một hình ảnh mà Có lẽ họ sẽ chẳng bao giờ được gặp lại. Người biên tập là tôi nhiều khi phải ngồi phiên chữ ra cho rõ để kỹ thuật viên có thể nhập liệu được. Có thể nói "Tìm hiểu đất Hậu Giang" là tập sách biên khảo trước tiên được viết dưới dạng văn chương thu hút và thú nhận. Cuốn sách này ra đời sau cuốn "Chuyện xưa tích cũ" in lần đầu năm 1957, sau đó ông cùng với nhà báo Tô Nguyệt Đình cùng đứng tên viết và bổ sung thêm một số mẩu chuyện để có độ dày như hiện giờ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét